DS34B.TK Diễn đàn lớp Dân Sự 34B ĐH Luật TPHCM
CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI FORUM LỚP DÂN SỰ 34B TRƯỞNG ĐẠI HỌC LUẬT TPHCM

DS34B.TK Diễn đàn lớp Dân Sự 34B ĐH Luật TPHCM


 
Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Latest topics
» Phần mềm học 3000 từ vựng tiếng anh thông dụng nhất - 100% Hiệu Quả
by thongpro31 Sat May 16, 2015 2:03 pm

» Cơ hội để sinh viên khoá sau tiếp tục sử dụng diễn đàn
by Admin Sun Mar 16, 2014 10:59 pm

» Sài Gòn Web Đẹp - Chuyên cung cấp sỉ lẻ Smart phone và thiết kế website trọn gói cho cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức với giá siêu rẻ
by Admin Fri Sep 13, 2013 10:17 am

» Thông báo về lễ tốt nghiệp
by Admin Wed Aug 28, 2013 2:29 pm

» Thông báo tuyển chuyên viên luật tại Quảng Ngãi
by Admin Wed Aug 28, 2013 2:22 pm

» Chủ đề: THẺ VISA TRẢ TRƯỚC (PREPAID CARD)
by kaka Sun Aug 25, 2013 6:19 pm

» Quy trình tổ chức Lễ bế giảng và trao bằng tốt nghiệp cho sinh viên hệ chính quy
by ronaldo Sun Aug 25, 2013 12:24 pm

» Tuyển cộng tác viên đăng tin quảng cáo làm việc tại nhà
by ronaldo Sun Aug 25, 2013 12:24 pm

» Chủ đề: THẺ VISA TRẢ TRƯỚC (PREPAID CARD)
by ronaldo Sun Aug 25, 2013 12:21 pm

» Nghị quyết mới môn LTTDS
by Ngo Tam Sat Jun 29, 2013 11:27 pm

» THÔNG BÁO VỀ LỊCH ÔN TẬP VÀ THI TỐT NGHIỆP
by Admin Thu Jun 27, 2013 11:32 am

» Điểm bộ phận TTHS
by Admin Thu Apr 25, 2013 7:48 pm

» Về đề thi môn TTHS (Mới nhất)
by Admin Mon Apr 08, 2013 10:48 pm

» Nhanh tay click - ăn cháo sạch dài lâu
by 4TCenter Fri Mar 29, 2013 2:55 pm

» Ôn tập TTHC
by Admin Thu Mar 28, 2013 7:15 pm

Monthly Hot Music

Top posters
kaka
 
ronaldo
 
Admin
 
hoàngngấn
 
EnbacMIG
 
MoonQn307
 
darkcrystal_hongxuan
 
heomoiden
 
thuha_qt
 
vanlinh
 
Advertisements
Lượt truy cập
thiết kế website giá rẻ Smart phone giá sốc
SEO website 
Liên kết
June 2018
MonTueWedThuFriSatSun
    123
45678910
11121314151617
18192021222324
252627282930 
CalendarCalendar

Share | 
 

 THỜI HIỆU DÂN SỰ – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LỊCH SỬ VÀ SO SÁNH

Go down 
Tác giảThông điệp
ronaldo
Forum VIP
Forum VIP


Tổng số bài gửi : 413
Points : 3041
Thanks : 7
Join date : 14/08/2011

Bài gửiTiêu đề: THỜI HIỆU DÂN SỰ – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LỊCH SỬ VÀ SO SÁNH   Tue Aug 30, 2011 7:01 pm

TS. TRẦN ANH TUẤN – Khoa Pháp luật Dân sự – Đại học Luật Hà Nội
1. Cơ sở của việc quy định thời hiệu dân sự

Xét dưới góc độ nhân sinh, đời sống của con người
vốn không phải là bất diệt. Sinh, lão, bệnh, tử dường như là con đường
mà con người ta ai cũng phải trải qua trong cõi nhân gian[1]. Có lẽ do
thấu hiểu rằng sự sống của con người vốn là hữu hạn nên từ cổ chí kim,
khi pháp luật được hình thành thì đều có những hạn định về thời gian
đối với các hành vi và quyền lợi của con người. Vấn đề thời hiệu trong
đời sống dân sự có lẽ cũng có nguồn gốc sâu xa từ quy luật chung này.

Theo góc nhìn lịch sử thì dường như vấn đề thời hiệu
dân sự là thành tựu của nền văn minh nhân loại, ra đời do nhu cầu tự
thân của đời sống chứ không phải là phát minh riêng của mỗi quốc gia.
Tuy nhiên, phụ thuộc vào truyền thống, lịch sử, văn hoá và quan niệm
của nhà lập pháp mỗi nước mà các quy định về vấn đề này trong nội luật
của mỗi quốc gia có thể có những điểm tương đồng và khác biệt nhất định.

Về phương diện xã hội, thời hiệu là phương tiện được
sử dụng nhằm ổn định tình trạng hiện hữu của các quan hệ xã hội sau một
thời gian nào đó vì lợi ích của thương mại hay pháp lý. Do vậy, việc
kiện tụng không thể được hành xử vô hạn định mà cần phải được thực hiện
trong thời hạn được nhà lập pháp ấn định. Việc không hạn định thời gian
thực hiện việc kiện có thể gây nên những xáo trộn, làm thiệt hại cho
nền kinh tế xã hội. Ngoài ra, nếu người có quyền để vụ việc trôi qua
quá lâu mới thực hiện việc kiện thì người có nghĩa vụ sẽ ở vị thế bất
lợi và khó có thể đưa ra được chứng cứ để biện hộ cho mình.

Theo nguyên tắc tự do ý chí, thời hiệu được coi như
là một sự suy đoán có tính mặc nhiên về ý chí của chủ thể đối với quyền
lợi. Luật suy đoán rằng người có quyền lợi đã từ bỏ tố quyền nếu họ
không hành động trong thời hạn mà họ đã có thể thực hiện nó. Như vậy,
nếu trong một thời hạn nhất định, người có quyền lợi đã không khởi kiện
mặc dù không có bất kỳ trở ngại nào cản trở việc thực hiện quyền này
thì có thể suy đoán rằng họ đã từ bỏ quyền khởi kiện của mình. Theo góc
nhìn này, người có nghĩa vụ có thể được giải thoát khỏi gánh nặng về
nghĩa vụ dân sự.



2. Thời hiệu dân sự trong cổ luật Việt Nam

Mục đích của việc triển khai nội dung này là mong có
một cái nhìn thấu đáo hơn về các quy định về thời hiệu đã tồn tại trong
lịch sử lập pháp trước đây. Song tiếc rằng do thời gian và hoàn cảnh
lịch sử nên nhiều thư tịch cổ của tiền nhân đã bị thất truyền. Điều này
quả thực là một trở ngại cho việc khảo cứu tài liệu để có thể hiểu thấu
đáo hơn về vấn đề thời hiệu dân sự trong cổ luật.

Theo sử liệu thì thời hiệu dân sự đã từng được ghi
nhận dưới thời Lý – Trần và dưới triều Lê. Tháng giêng năm Đại Định thứ
ba (1142), vua Lý Anh Tông (1128 – 1175) khi ban hành quy định về việc
kiện tụng và chuộc lại ruộng đất đã định rằng « Các ruộng cày cấy
đã đem cầy cấy có thể chuộc lại trong một hạn là hai mươi năm. Các vụ
tương tranh về điền thổ không thể xin vua xét xử sau một thời hạn 5 hay
10 năm.


Phàm vườn ruộng bỏ hoang, đã có người cầy cấy,
người chủ chỉ có quyền đòi lại trong hạn một năm. Trái lệnh này, sẽ
phải phạt 80 trượng.


Các ruộng cày cấy hoặc bỏ hoang, đã có văn tự bán đứt, không thể chuộc lại được – Ai trái lệnh cũng phải phạt cùng một tội ». Giáo sư Vũ Văn Mẫu nhận xét rằng « Đây
là điều luật cổ nhất ngày nay ta còn thấy ghi chép rõ ràng trong sử về
quy chế các điền thổ – Đạo luật ấy đã bênh vực quyền lợi của nông dân
» và « Để
cho người dân quê tránh khỏi nạn bóc lột của chủ nợ thường manh tâm
chiếm đoạt của họ, Vua Lý Anh Tông đã ấn định một thời hạn khá dài là
20 năm, cho phép họ được chuộc lại ruộng đất trong thời hạn ấy »
[2].

Nếu so sánh với các quy định về thời hiệu dân sự
trong pháp luật đương đại của một số nước điển hình trên thế giới (kể
cả các cải cách về thời hiệu trong thời gian gần đây) thì quy định trên
về thời hiệu dân sự có thể xem là một thành tựu lập pháp trong cổ luật
Việt Nam cả về phương diện kỹ thuật và tính nhân bản của pháp luật.
Dưới góc nhìn lập pháp thời nay, trong bối cảnh « đất chật người đông
», « tấc đất tấc vàng » thì quy định về thời hiệu thủ đắc trong hạn một
năm đối với ruộng đất bỏ hoang dường như là quá dễ dãi với người chiếm
hữu và việc bảo vệ quyền lợi của chủ đất cũ đã không được chú trọng.
Tuy nhiên, điều này hoàn toàn có thể giải thích, bởi bối cảnh cổ xưa
của nền văn minh nông nghiệp, tình trạng đất đai bị hoang hoá và sự cần
thiết phải thực hiện chính sách « trọng nông » đối với các vương triều
phong kiến Việt Nam. Việc coi trọng quyền lợi của người nông dân đã
thực sự cầy cấy những ruộng đất bỏ hoang và coi họ như sở hữu chủ những
ruộng đất ấy sau một năm cầy cấy là một chính sách pháp luật nhằm hạn
chế tình trạng bỏ hoang hoá ruộng đất, không có người khai thác.

Giáo sư Vũ Văn Mẫu nhận xét rằng « luật pháp
triều Lý có một tính cách rất thiết thực. Sự bênh vực quyền lợi của lớp
nông dân không phải là một chính sách hoàn toàn đạp đổ quyền sở hữu
trong mọi trường hợp. Vì vậy, nhà làm luật đã phân biệt rõ ràng sự cầm
cố với sự bán đứt hay đoạn mại các ruộng nương. Trong trường hợp có văn
tự biên rõ là đoạn mãi, các ruộng nương không thể chuộc lại được. Đây
là một nguyên tắc rất cần thiết cho tính cách vững ổn các hợp đồng đã
được ký kết giữa các tư nhân. Nhờ nguyên tắc ấy, các sự mua bán mới có
một căn bản vững chắc, và các sự kiện tụng mới mong giảm bớt được
»[3].

Tinh thần căn bản nói trên về thời hiệu cũng được kế
thừa trong pháp luật triều Trần và triều Lê. Năm 1299, Vua Trần Anh
Tông có chiếu định rằng ai đã bán ruộng đất và gia nhân làm nô tỳ trong
hai năm 1290, 1291 thì cho chuộc về, để quá hạn năm 1299 thì không cho
chuộc[4]. Có lẽ do xuất phát từ nền văn minh nông nghiệp nên pháp luật
về thời hiệu dân sự dưới các vương triều phong kiến Việt Nam đều chú
trọng tới vấn đề ruộng đất. Dưới triều Lê, Điều 387 Bộ luật Hồng Đức
định rằng, đối với những ruộng đất cầm mà chủ ruộng xin chuộc thì phải
trong niên hạn. « Nếu quá niên hạn mà xin chuộc thì không được (niên hạn là 30 năm). Trái lẽ mà cố cưỡng đi kêu, thì phải phạt 50 roi, biếm một tư » (Điều 384). Ngoài ra, « Con
trai từ 16 tuổi, con gái từ 20 tuổi trở lên, mà ruộng đất của mình để
người trưởng họ hay người ngoài cày hay ở, đã quá niên hạn mới cố cưỡng
đòi lại, thì phải phạt 80 trượng và mất ruộng đất (niên hạn: người
trưởng họ 30 năm, người ngoài 20 năm). Nếu vì binh hoả hay đi siêu bạt
mới về, thì không theo luật này
»[5].

Như vậy, các quy định về thời hiệu trên cho thấy
pháp luật chỉ nói đến việc mất quyền do hết thời hiệu như quá hạn luật
định thì chủ ruộng đất cũ không được đòi hay chuộc lại tài sản, còn
quyền thủ đắc theo thời hiệu của người đang thực thụ chiếm hữu ruộng
đất chỉ là quy định có tính ẩn ngầm về sự thủ đắc. Dường như có một mối
liên hệ chặt chẽ giữa sự mất quyền của chủ ruộng đất cũ và sự thủ đắc
quyền lợi của người chiếm hữu ruộng đất dựa trên các quy định về thời
hiệu trong cổ luật. Ngoài ra, thời hiệu chấm dứt quyền theo cổ luật
Việt Nam là tương đối dài. Quy định ngoại lệ về thời gian không tính
vào thời hiệu do « binh hoả hay đi siêu bạt mới về » là một thành tựu
thể hiện sự mềm dẻo và tinh tế trong tư duy lập pháp của ông cha ta.
Ngày nay, chúng ta có thể tìm thấy tính hợp lý của cách tư duy này
trong các định chế của phương Tây và luật thực định Việt Nam về thời
gian không tính vào thời hiệu do trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất
khả kháng.

3. Thời hiệu dân sự dưới thời Pháp thuộc

Thời kỳ này, pháp luật dân sự Việt Nam chịu nhiều
ảnh hưởng của pháp luật dân sự Pháp. Do vậy, thời hiệu dân sự là một
danh từ dùng để chỉ hai loại thời hiệu là thời hiệu thủ đắc và thời
hiệu tiêu diệt. Về học lý, vấn đề này đã được giáo sư Vũ Văn Mẫu và
giáo sư Lê Đình Chân đề cập trong cuốn « Danh từ và tài liệu Dân luật và Hiến luật
» năm 1968. Theo đó, thời hiệu (prescription) được hiểu là thời hạn do
luật ấn định có hiệu lực biến sự chiếm hữu một tài sản thành quyền sở
hữu (thời hiệu thủ đắc – prescription acquisitive) hoặc tiêu diệt món nợ của đương sự (thời hiệu tiêu diệt – prescription libératoire hay prescription extinctive). Sở
dĩ, nhà làm luật quy định vấn đề thời hiệu, là vì muốn tránh những vụ
phân tranh kiện cáo phiền phức và tốn kém, khi các đương sự đã để trôi
qua một thời gian quá lâu mà không hành động. Do đó, mới công nhận là
quyền chiếm hữu đã thành quyền sở hữu hay món nợ đã bị tiêu diệt[6].
Như vậy, theo nhận định này thì thời hiệu thủ đắc và thời hiệu tiêu
diệt có mối liên hệ mật thiết với nhau.

Theo nhà nghiên cứu Trần Thúc Linh thì « Thời
hiệu là một phương chước để một người có thể thủ đắc bất động sản bằng
cách chấp hữu trong một thời gian, hoặc để cho con nợ được tự giải
thoát khỏi bị chủ nợ khởi tố nếu đã để quá thời hạn luật định không
hành xử tố quyền…
». Tuỳ theo trường hợp chiếm hữu một bất động sản
hay một động sản, thời hiệu thủ đắc có thể dài hay ngắn hoặc tức thì.
Tuy nhiên, có một số động sản hoặc bất động sản thuộc về lãnh vực công
của quốc gia thì không thể thủ đắc bằng thời hiệu. Thời hạn thủ đắc
bằng thời hiệu phải là 30 năm với điều kiện sự chấp hữu phải liên tục,
không có bạo hành, công khai và nhầm lẫn. Còn thời hiệu tiêu diệt là
thời hiệu làm cho tố quyền của chủ nợ đối với con nợ vô hiệu vì đã
không hành xử trong thời hạn luật định. Thời hiệu này có thể dài hay
ngắn tuỳ theo trường hợp. Theo thời hiệu tiêu diệt thì một quyền lợi
không được chủ thể sử dụng trong một thời gian lâu sẽ bị thời hiệu làm
chấm dứt[7].

Việc nghiên cứu cho thấy, tinh thần này đã được thể
hiện trong hai bộ Dân luật Bắc 1931 (DLB) và Dân luật Trung 1936 (DLT).
Điều 857 DLB và Điều 934 DLT đều quy định « Giải trừ thời hiệu, là một
cách thoát nợ vì chủ nợ không đòi hỏi trong thời hạn pháp luật đã định
». Về nguyên tắc thì thời hiệu giải trừ nghĩa vụ thông thường là tương
đối dài 20 năm hoặc 10 năm, trong một số trường hợp đặc biệt thì thời
hiệu này còn có thể ngắn hơn nữa. Điều 857 DLB ấn định thời gian dài
nhất để giải trừ nghĩa vụ là 20 năm, theo đó « Phàm nghĩa vụ mà pháp
luật không quy định một thời hạn ngắn hơn hay không tuyên rõ là không thể bị thời hiệu giải trừ
được, thì cứ hết hai mươi năm tính từ lúc người chủ nợ có quyền đòi hỏi
mà không đòi hỏi gì, đều bị tiêu diệt vì thời hiệu giải trừ ». Điều 935
DLT cũng sử dụng cùng một văn từ trên nhưng lại ấn định thời hiệu giải
trừ là 10 năm. Như vậy, cùng mô phỏng từ luật dân sự Pháp nhưng cách ấn
định thời hạn của thời hiệu tại Bắc bộ và Trung bộ lại có những sự khác
biệt nhất định. Sự khác biệt về góc nhìn lập pháp này tiếp tục được thể
hiện đối với các việc kiện về nhân quyền, theo đó thời hiệu tiêu diệt
là mười lăm năm trong DLB (Điều 863) và 10 năm trong DLT (Điều 936) « trừ khi có điều luật định khác thời không kể
». Đối với các tố quyền xin tiêu huỷ các khế ước vì vô hiệu, Điều 863
khoản 2 DLB và Điều 936 khoản 2 DLT định rằng các việc kiện vô hiệu hay
kiện xin thủ tiêu khế ước sẽ bị tiêu diệt sau thời hiệu là 5 năm, trừ
khi có điều luật riêng định khác thời không kể.

Nghiên cứu về nghĩa vụ không bị chấm dứt do thời
hiệu trong thời kỳ này cho thấy dường như các thuật ngữ « Phàm nghĩa vụ
mà pháp luật … không tuyên rõ là không thể bị thời hiệu giải trừ được (Điều 857 DLB, Điều 935 DLT) và « trừ khi có điều luật định khác thời không kể
» (Điều 863 DLB và Điều 936 DLT) đã thể hiện nhà làm luật Việt Nam đã
có dự liệu về những nghĩa vụ không bị chấm dứt do thời hiệu. Tuy nhiên,
luật thực định không có điều khoản nào quy định cụ thể về loại tố quyền
không bị chấm dứt bởi thời hiệu này. Về học lý, vấn đề này đã được nhà
nghiên cứu Nguyễn Quang Quýnh giải thích trong « Luật học nhập môn về nhân thân gia đình
». Theo đó, có những quyền lợi dù không được sử dụng cũng không bị tiêu
diệt. Đó là các quyền tinh thần thuộc về gia đình và quyền sở hữu. Một
trạch chủ có một thửa đất không sử dụng, sau 30 năm cũng không mất
quyền sở hữu của mình, nếu không có kẻ chiếm cứ. Vì vậy, người ta gọi
quyền sở hữu là một quyền vĩnh viễn.Quá 30 năm tuy
trạch chủ đó có thể mất quyền sở hữu nếu có kẻ khác chiếm hữu bất động
sản. Nhưng nếu xảy ra như vậy thì là vì kẻ chiếm đất đã thời đắc được
thửa đất, chứ không phải vì quyền sở hữu của trạch chủ bị chấm dứt bởi
thời hiệu. « Bằng chứng là nếu kẻ chiếm đất không hội đủ điều kiện để thời đắc, thì thửa đất vẫn thuộc quyền sở hữu của trạch chủ cũ ».

Ngày nay pháp luật Việt Nam đã phát triển theo hướng
không áp dụng thời hiệu đối với các quan hệ nhân thân. Tuy nhiên, ngược
dòng lịch sử có thể thấy rằng thời hiệu kiện yêu cầu xác định cha cho
con đã từng được ấn định trong các Điều 177 DLB, Điều 173 DLT. Theo quy
định này thì nếu người mẹ kiện xác định cha cho con, thời hạn kiện là 2
năm sau khi sinh đứa trẻ. Trong trường hợp người cha chung sống với
người mẹ hoặc cấp dưỡng cho con thì thời hạn 2 năm để khởi kiện sẽ tính
từ ngày hai người chấm dứt tình trạng sống chung hoặc từ ngày người cha
chấm dứt sự cấp dưỡng nuôi nấng đứa trẻ. Điều 176 DLT định rằng nếu
người con đã trưởng thành khởi kiện xác định cha thì thời hạn để khởi
kiện là 1 năm sau khi đã thành niên. Thời hạn kiện xác định cha cho con
ngoài giá thú không được quy định trong Dân Luật Nam kỳ giản yếu. Theo
nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Quýnh thì « Sự im lặng này đã được án
lệ giải thích một cách rộng rãi là coi tố quyền này bất khả thời tiêu
nghĩa là có thể được hành sử vô hạn định
»[8].

Tinh thần căn bản trên của học lý sau này đã được tiếp thu trong Điều thứ 1434 Bộ Dân luật năm 1972: « Thời
hiệu là một phương tiện để thủ đắc một quyền lợi hay để được giải nợ
sau một thời gian và với những điều luật định. Trường hợp trên là sự
thủ đắc thời hiệu hay đắc hiệu; trường hợp dưới là sự tiêu diệt thời
hiệu hay thời tiêu
».

Về thời hiệu tiêu diệt Điều 1474 Bộ luật này định rằng « Hết thảy mọi tố quyền, dù là tố quyền đối nhân hay đối vật đều bị thời tiêu sau ba mươi năm,
không cứ là người viện dẫn thời hiệu ấy ngay tình hay gian tình và cũng
không cần người ấy phải xuất trình bằng chứng gì khác, ngoại trừ những
trường hợp đã được luật pháp ấn định một thời hạn ngắn hơn…». Về nguyên
tắc thì thời hiệu tiêu diệt tố quyền tương đối dài (30 năm), trừ một số
các trường hợp biệt lệ thời hiệu này có thể là 5 năm, 2 năm, 6 tháng
(Điều 1476, 1477, 1478 Bộ Dân luật năm 1972).

Về thời hiệu thủ đắc để trở thành sở hữu chủ
đối với bất động sản thì người chấp hữu một bất động sản liên tiếp yên
ổn, công khai và minh bạch, với tư cách là sở hữu chủ trong hai mươi năm,
sẽ làm cho người chấp hữu thủ đắc quyền tư hữu về bất động sản ấy (Điều
1444 và Điều 1482 Bộ Dân luật năm 1972). Ngoài ra, việc phân hoá các
giải pháp trong luật nhằm bảo vệ quyền lợi của người chiếm hữu các động
sản trên cơ sở suy đoán sự ngay tình trong việc chiếm hữu tỏ ra rất gần
gũi với đời sống thực tại và có giá trị tham khảo cho hoạt động lập
pháp ngày nay. Theo đó, đối với động sản thì người chiếm hữu được coi
là sở hữu chủ. Tuy nhiên, người để thất lạc hay bị mất trộm một đồ vật
thực thể, hữu hình, có thể kiện đòi đồ vật ấy trong tay người chiếm
hữu, trong hạn ba năm kể từ ngày đồ vật bị thất lạc hay bị lấy trộm;
trong trường hợp này người chiếm hữu có quyền khởi kiện người đã di
chuyển đồ vật cho mình. Nếu người chiếm hữu đã mua đồ vật ấy ở chợ, hay
một cuộc phát mại công cộng, ở một tiệm có bán những đồ vật tương tự,
người chủ, muốn lấy lại đồ vật, phải hoàn lại giá mua cho người chiếm
hữu (Điều 1488 và Điều 1489 Bộ Dân luật năm 1972).

Như vậy, kết quả nghiên cứu lịch sử pháp luật Việt
Nam về thời hiệu dân sự, giúp ta có một nền tảng căn bản để tiếp tục
giải quyết những vấn đề của hiện tại trong mối liên hệ với sự tiến
triển về học lý, luật thực định và án lệ Pháp ngày nay.

4. Thời hiệu dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện hành và so sánh

4.1. Về thời điểm bắt đầu thời hiệu và thời gian của thời hiệu

- Đối với tố quyền vô hiệu:

Theo học lý của Pháp, có hai thuyết về xác định thời
điểm bắt đầu thời hiệu. Theo lý thuyết có tính cách xã hội, vì thời
hiệu liên hệ đến quyền lợi chung, nên khởi điểm ngay từ ngày kết lập
khế ước để sớm chấm dứt tình trạng bất định. Đối với lý thuyết căn cứ
vào sự xác nhận mặc nhiên, thời hiệu chỉ khởi điểm từ ngày đương sự có
đủ năng lực để xác nhận chứng thư vô hiệu[9]. Tuy nhiên, quy định tại
Điều 1304 Bộ luật Dân sự Pháp (BLDSP) cho thấy nhà làm luật đã chấp
nhận lý thuyết thứ hai căn cứ vào sự xác nhận mặc nhiên. Các điều khoản
trên định rằng trong trường hợp bị đe doạ, thời hiệu khởi điểm từ ngày
sự đe doạ đó chấm dứt; trong trường hợp lầm lẫn hoặc bị lừa dối thì
khởi điểm là ngày phát hiện ra việc nhầm lẫn hoặc hành vi lừa dối; đối
với giao dịch ký kết với người chưa thành niên thì khởi điểm là ngày
người đó đủ tuổi thành niên hoặc được công nhận có đầy đủ năng lực hành
vi. Luật ngày 17/6/2008 đã sửa đổi quy định tại Điều 2224 BLDSP[10] về
thời hiệu đối với tố quyền vô hiệu tuyệt đối, theo hướng thời điểm bắt
đầu của thời hiệu này được « kể từ ngày người có quyền biết hoặc buộc phải biết các sự kiện cho phép họ thực hiện quyền khởi kiện ».

Theo truyền thống của Pháp thì độ dài của thời hiệu
phụ thuộc vào bản chất của sự vô hiệu. Theo các quy định của BLDSP
trước đây thì thời hiệu của tố quyền vô hiệu tương đối là 5 năm thì
thời hiệu của tố quyền vô hiệu tuyệt đối là 30 năm. Luật ngày 17/6/2008
đã thống nhất các thời hạn này. Điều 1304 BLDSP vẫn được giữ nguyên bởi
Luật ngày 17/6/2008, theo đó « Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu tuyên bố
vô hiệu hoặc hủy bỏ hợp đồng là 5 năm, trừ trường hợp luật chuyên ngành
có quy định thời hạn ngắn hơn ». Quy định này chỉ áp dụng đối với tố
quyền vô hiệu tương đối mà không áp dụng với tố quyền vô hiệu tuyệt đối
và các tố quyền không phải là tố quyền vô hiệu.

Trước đây, theo quy định tại Điều 2262 BLDSP thì «
Thời hiệu khởi kiện đối với việc kiện dù về tài sản hay nhân thân đều
là ba mươi năm». Án lệ Pháp đã áp dụng quy định này đối với các tố
quyền vô hiệu tuyệt đối. Với chủ đích trừng phạt sự vi phạm pháp luật
và bảo vệ lợi ích chung thì một thời hạn dài như trên có thể tăng thêm
những cơ may huỷ bỏ hợp đồng có vi phạm. Tuy nhiên, vì lý do đề cao vai
trò của thời hiệu trong việc ổn định tình trạng các quan hệ xã hội vì
lợi ích của thương mại và pháp lý nên Luật ngày 17/6/2008 đã rút ngắn
một cách đáng kể thời hạn của thời hiệu đối với tố quyền vô hiệu tuyệt
đối. Do vậy, từ nay theo quy định tại Điều 2224 BLDSP thì « Thời
hiệu khởi kiện đối với việc kiện dù về tài sản hay nhân thân đều là 5
năm, kể từ ngày người có quyền biết hoặc buộc phải biết các sự kiện cho
phép họ thực hiện quyền khởi kiện
». Như vậy, theo quy định này
thì thời hiệu đối với tố quyền vô hiệu tuyệt đối và tố quyền vô hiệu
tương đối đã được đồng nhất là 5 năm chứ không còn có sự cách biệt như
trước đây nữa.

Cải cách theo hướng rút ngắn thời hiệu này cũng gây
nên những bất cập. Cụ thể là cơ hội để yêu cầu huỷ bỏ giao dịch vô hiệu
xâm phạm trật tự công hoặc lợi ích chung đã bị hạn chế, do vậy, nguy cơ
số lượng các giao dịch vô hiệu tuyệt đối tồn tại sẽ tăng lên. Ngoài ra,
quy định về thời điểm bắt đầu thời hiệu « kể từ ngày người có quyền biết hoặc buộc phải biết các sự kiện cho phép họ thực hiện quyền khởi kiện »
thể dẫn tới thực tế là thời hiệu của tố quyền vô hiệu tuyệt đối có thể
còn ngắn hơn cả thời hiệu của tố quyền vô hiệu tương đối. Bởi vì, theo
truyền thống trước đây trong pháp luật Pháp thì thời hiệu dài nhất đối
với tố quyền vô hiệu tuyệt đối là 30 năm kể từ ngày ký kết hợp đồng,
trong khi đó thời hiệu đối với tố quyền vô hiệu tương đối do vi phạm ý
chí thì là 5 năm kể từ ngày phát hiện ra việc nhầm lẫn hoặc hành vi lừa
dối. Giả sử trường hợp một sự nhầm lẫn phát hiện được sau 32 năm kể từ
khi giao kết hợp đồng thì việc kiện yêu cầu tuyên bố vô hiệu tương đối
sẽ tiếp tục được thực hiện trong 5 năm kể từ thời điểm phát hiện, trong
khi đó thời hiệu 30 năm đã kết thúc từ 2 năm trước đó.

Có lẽ cần phải coi rằng vì các lý do an ninh pháp lý
mà thời hiệu 30 năm tạo thành một thời hạn tối đa. Học lý về vấn đề này
cũng còn có quan điểm khác nhau. Tuy nhiên, án lệ trước đây đi theo
hướng không áp dụng thời hạn tối đa đối với yêu cầu huỷ bỏ giao dịch vô
hiệu tương đối. Án lệ của Toà án Paris, trong bản án ngày 22 tháng 7
năm 1853 đã xử bác yêu cầu huỷ bỏ giao dịch vô hiệu tương đối với lý do
việc kiện này không thể được tiến hành sau 30 năm kể từ ngày
giao kết hợp đồng. Nhưng Toà dân sự Pháp, trong bản án ngày 24 tháng 1
năm 2006 đã phán quyết rằng yêu cầu tuyên bố vô hiệu trong vụ kiện năm
1998 do có sự lừa dối khi ký kết giao dịch năm 1961 vẫn không bị hết thời hiệu với lập luận rằng giải pháp ngược lại sẽ làm mất đi hiệu quả của quyền kiện yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu do lừa dối được phát hiện sau 37 năm giao kết hợp đồng[11].
Về phương diện luật thực định, để các cải tổ về thời hiệu không phá vỡ
truyền thống, nhà lập pháp đã thiết lập bên cạnh các quy định thời hiệu
5 năm một quy định về thời hạn chặn hay thời hạn tối đa có tính nguyên
tắc tại Điều 2232 BLDSP (Luật ngày 17/6/2008). Theo đó, một tố quyền vô
hiệu không bao giờ có thể được thực hiện vượt quá 20 năm từ khi giao
kết hợp đồng.

Theo pháp luật dân sự Việt Nam thì thời hiệu yêu cầu
Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu tương đối do lừa dối, nhầm
lẫn, đe dọa, do người không có năng lực hành vi hoặc không nhận thức,
làm chủ được hành vi là hai năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập.
Còn đối với các giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo, trái pháp luật,
đạo đức xã hội thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô
hiệu không bị hạn chế (Điều 136 BLDSVN 2005). Như vậy, giải pháp về
thời hiệu đối với tố quyền vô hiệu tương đối trong pháp luật Việt Nam
đi theo lý thuyết về ổn định xã hội, thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi
kiện là ngày giao dịch được xác lập với chủ đích bình ổn các
quan hệ dân sự được thiết lập. Giải pháp này dường như đi ngược lại với
luật thực định Pháp và không đáp ứng yêu cầu bảo đảm quyền tiếp cận
công lý của công dân. Ngoài ra, thời hạn 2 năm của thời hiệu đối với
yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu tương đối theo pháp luật Việt Nam là
khá ngắn so với thời hạn 5 năm trong pháp luật Pháp.

Đối với các giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối nhà
lập pháp Việt Nam đã chọn giải pháp đề cao việc bảo vệ trật tự công, do
vậy luật thực định không hạn chế thời hiệu khởi kiện huỷ bỏ đối với
giao dịch vô hiệu tuyệt đối. Giải pháp này dường như đi ngược với tục
dao la tinh « Quae temporalia sunt ad agendum perpetua sunt ad excipiendum
» được tạm dịch là « Sự việc mang tính nhất thời bằng phương thức khởi
kiện nhưng là vĩnh viễn bằng phương thức phản kháng ». Theo đó, tố
quyền kiện vô hiệu bị giới hạn bởi thời hiệu nhưng sự phản kháng về
tính vô hiệu có tính vĩnh viễn. Có nghĩa là khi quyền khởi kiện yêu cầu
huỷ bỏ giao dịch bất hợp pháp đã không thể thực hiện được nữa do hết
thời hiệu kiện thì một bên đương sự vẫn có thể sử dụng phương thức phản
kháng về tính vô hiệu để chống lại yêu cầu thi hành hợp đồng của bên
đối phương mà không bị hạn chế về thời gian. Tính vĩnh viễn của phương
pháp biện hộ này là nhằm làm thất bại dự tính của một bên trong việc để
vượt quá thời hiệu kiện huỷ bỏ rồi mới kiện yêu cầu thi hành hợp đồng,
trong khi bên đối phương đã bị tước đi khả năng tranh luận về tính hợp
pháp của hợp đồng do thời hiệu đã hết[12]. Theo truyền thống pháp luật
Pháp thì thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu tuyệt đối là 30
năm kể từ ngày giao dịch được xác lập. Luật ngày 17/6/2008 đã sửa đổi
theo hướng thời hiệu này chỉ còn là 5 năm nhưng được bắt đầu « kể từ ngày người có quyền biết hoặc buộc phải biết các sự kiện cho phép họ thực hiện quyền khởi kiện »[13].
Ngoài ra, Luật này cũng có quy định về thời hạn tối đa đối với mọi yêu
cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu là 20 năm, kể từ thời điểm giao dịch
được thiết lập. Tuy nhiên, giải pháp về thời hiệu trong pháp luật dân
sự Việt Nam đối với giao dịch vô hiệu tuyệt đối lại là vô hạn. Giải
pháp này có sự khác biệt căn bản với pháp luật dân sự của Pháp và nhiều
nước trên thế giới như Đức, Trung Quốc, Nhật Bản. Các nước này đều quy
định theo hướng thiết lập song song hai loại thời hạn đối với
tố quyền yêu cầu huỷ bỏ giao dịch vô hiệu: Một thời hạn ngắn từ 1 đến 5
năm và một thời hạn tối đa tương đối dài kể từ ngày thực hiện hành vi
hoặc xác lập giao dịch (Đức là 30 năm; Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản là 20
năm).

- Đối với các tố quyền khác

Ngoài các quy định về thời hiệu đối với các tố quyền vô hiệu trên đây, pháp luật cũng quy định thời hiệu chung đối với các tố quyền
đối nhân, tố quyền động sản là 5 năm. Tuỳ theo trường hợp, các thời
hiệu đặc biệt được thiết lập có thể dài hơn hoặc ngắn hơn thời hạn 5
năm. Cụ thể là các trường hợp đặc biệt có thời hiệu là 30 năm, 10 năm,
4 năm, 3 năm, 2 năm, 1 năm hoặc dưới 1 năm. Việc nghiên cứu so sánh cho
thấy mặc dù cải tố theo hướng rút ngắn thời hiệu để đáp ứng yêu cầu của
nhịp sống hiện tại, thì về căn bản thời hạn của thời hiệu trong pháp
luật dân sự Pháp cũng được quy định dài hơn so với pháp luật Việt Nam.
Góc nhìn lập pháp này cho thấy pháp luật Việt Nam về thời hiệu dường
như chưa thực sự đáp ứng yêu cầu về sự cân bằng giữa mục tiêu ổn định
đời sống dân sự và bảo đảm quyền lợi của chủ thể trong các quan hệ dân
sự đã được thiết lập.

- Về thời hiệu 5 năm – thời hiệu chung :

Trước khi Luật ngày 17/6/2008 có hiệu lực, thời hiệu
chung theo quy định của BLDSP là 30 năm. Thời hạn trên từ lâu đã bị
giới nghiên cứu đánh giá là quá dài, nhất là do sự gia tăng của nhịp độ
cuộc sống hiện nay. Do vậy, khuynh hướng pháp luật hiện nay ở Pháp cũng
như ở các nước là rút ngắn thời hạn của thời hiệu. Điều 2224 BLDSP quy
định « Các tố quyền đối nhân hoặc tố quyền động sản hết thời
hiệu sau 5 năm kể từ ngày người có quyền lợi biết hoặc buộc phải biết
các sự kiện cho phép họ thực hiện quyền này » (Sửa đổi bởi Luật ngày
17/6/2008). Thời hiệu này được áp dụng chung cho các lĩnh vực hợp đồng
và bồi thường ngoài hợp đồng, trong lĩnh vực dân sự cũng như thương
mại, lao động.

- Về thời hiệu 30 năm:

Hiện nay, theo quy định tại Điều 2227 BLDSP (Sửa đổi bởi Luật ngày 17/6/2008) thì « Quyền sở hữu
không thể bị chấm dứt bởi thời hiệu. Trừ trường hợp các tố quyền bất
động sản hết thời hiệu sau 30 năm kể từ ngày người có quyền biết hoặc
buộc phải biết các sự kiện cho phép họ thực hiện quyền này » (Sửa đổi
bởi Luật ngày 17/6/2008). Như vậy, thời hiệu truyền thống 30 năm vẫn
tiếp tục được áp dụng đối với các tố quyền đối vật bất động sản «kể từ ngày người có quyền biết hoặc buộc phải biết các sự kiện cho phép họ thực hiện quyền này».

Một quy định mới tại Điều L.152-1 của Luật Môi
trường của Pháp, cũng có quy định đặc biệt về thời hiệu 30 năm đối với
“nghĩa vụ tài chính liên quan tới những thiệt hại gây ra đối với môi
trường bởi các thiết bị, công trình và các hoạt động điều chỉnh bởi
luật này…”. Thời hạn này được áp đặt nhằm tuân thủ các quy định tại Chỉ
thị 2004/35/CE của Nghị viện Châu Âu. Quy định này được thiết lập là
phù hợp với thực tiễn, bởi vì sự phát hiện ra các thiệt hại có liên
quan đến ô nhiễm môi trường thường là rất muộn. Tuy nhiên, độ dài của
thời hạn này cũng đã được giới hạn, bởi thời điểm bắt đầu thời hiệu sẽ
được tính từ khi có “biểu hiện thiệt hại” chứ không phải là
thời điểm mà người bị thiệt hại biết được thiệt hại. Đây là điểm khác
biệt căn bản với pháp luật Việt Nam, thời hiệu 2 năm để kiện yêu cầu
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (bao gồm cả thiệt hại môi trường)
là quá ngắn.

Ngoài ra, các tố quyền huỷ bỏ hôn nhân theo pháp
luật dân sự Pháp là 30 năm (Điều 184 và Điều 191 BLDSP), với ngoại lệ
về thời hiệu đối với các tố quyền huỷ bỏ hôn nhân do thiếu sự tự do, tự
nguyện hoặc do nhầm lẫn là 5 năm kể từ ngày kết hôn hoặc kể từ khi
người làm đơn đã hoàn toàn tự do hoặc đã chấp nhận sự nhầm lẫn. Có lẽ
do sự khác biệt căn bản về quan niệm lập pháp nên pháp luật Việt Nam đã
phát triển theo hướng yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật là vô hạn
định.

- Về thời hiệu 10 năm:

Thời hiệu này được áp dụng cho các trường hợp sau:
tố quyền thân trạng (truyền thống coi là không áp dụng thời hiệu, sau
này được giảm xuống còn 30 năm theo Luật ngày 3/1/1972 về trực hệ, rồi
10 năm bởi Sắc lệnh ngày 4/7/2005 – xem Điều 321 BLDSP); các tố quyền
yêu cầu bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ do tai nạn giao
thông, nạn nhân của hành vi khủng bố (Điều L. 211–19, L . 1142-28 Luật
Bảo hiểm) trừ trường hợp thiệt hại gây ra do tra tấn, hành vi dã man,
bạo lực hoặc xâm hại tình dục đối với người chưa thành niên thì thời
hiệu là 20 năm; các tố quyền về trách nhiệm nghề nghiệp y tế (Điều L.
1142-28 Luật y tế công); trách nhiệm của nhà sản xuất đối với sản phẩm
(Điều 1386 -16 BLDS); tố quyền về trách nhiệm của người cho thuê công
trình, kiến trúc sư, chủ thầu…; tố quyền thi hành các chứng thư có hiệu
lực; tố quyền trách nhiệm về sự bất hợp thức trong việc thành lập công
ty (Điều L. 210-8 LTM)…

- Về thời hiệu 4 năm và các thời hiệu ngắn hơn:

Thời hiệu 4 năm được áp dụng đối với các món nợ của
Nhà nước hoặc pháp nhân công quyền cũng như các khoản nợ về thuế hoặc
tương đương (Điều L. 274 Luật Tài chính công). Thời hiệu 3 năm được áp
dụng đối với các việc kiện tuyên bố vô hiệu đối với sự thành lập công
ty hoặc các văn bản và các nghị quyết sau khi thành lập công ty, về
trách nhiệm đối với công ty thương mại; tố quyền yêu cầu bồi thường
thiệt hại gây ra cho học sinh trong các cơ sở đào tạo (Điều L. 274 Luật
Tài chính công)…Thời hiệu 2 năm áp dụng với kiện huỷ bỏ giao dịch thực
hiện bởi một bên vợ chồng do vượt quá quyền hạn của mình đối với tài
sản chung; tố quyền kiện huỷ hợp đồng mua bán vì khuyết tật của sản
phẩm; kiện về trách nhiệm nghề nghiệp đối với tài sản và dịch vụ cung
cấp đối với người tiêu thụ; các việc kiện phát sinh từ hợp đồng bảo
hiểm; kiện hãng vận chuyển hàng không hoặc vận tải biển; kiện về tai
nạn lao động; về trách nhiệm của thừa phát lại do làm mất hoặc huỷ tài
liệu, giấy tờ. Thời hiệu 1 năm áp dụng với kiện tuyên bố vô hiệu các
giao dịch do một bên vợ chồng tự quyết định về chỗ ở của gia đình; yêu
cầu huỷ bỏ việc tặng vì lý do vô ơn…Một số trường hợp thời hiệu có thể
dưới 1 năm, chẳng hạn, thời hiệu 6 tháng đối với kiện ghi chuyển nhượng
LC, thời hiệu 3 tháng đối với kiện bồi thường thiệt hại do vu khống,
lăng nhục bởi báo chí, thời hiệu 2 tháng đối với các tranh chấp bởi các
đồng sở hữu chủ vắng mặt hoặc phản đối các quyết định của đại hội của
nghiệp đoàn các đồng sở hữu.

- Về trường hợp không áp dụng thời hiệu

Theo lịch sử lập pháp Việt Nam thì có những quyền
lợi dù không được sử dụng cũng không bị tiêu diệt. Đó là các quyền tinh
thần thuộc về gia đình và quyền sở hữu[14]. Pháp luật dân sự Việt Nam
hiện hành đã phát triển theo hướng không áp dụng thời hiệu đối với các
yêu cầu hoàn trả tài sản thuộc sở hữu nhà nước, yêu cầu bảo vệ quyền
nhân thân và các trường hợp khác mà pháp luật có quy định (Điều 160
BLDS 2005) nhưng lại không có điều khoản nào quy định về tính vĩnh viễn
của quyền sở hữu và quyền kiện về sở hữu.

Nghiên cứu rộng ra thì hiện nay pháp luật dân sự
Pháp vẫn giữ truyền thống trước đây là thời hiệu tiêu diệt không thể
làm chấm dứt quyền sở hữu. Tính không thể tiêu diệt do thời hiệu được
thể hiện trong các quy định về quyền sở hữu, quyền này không thể bị mất
do không sử dụng theo thời gian, do vậy, thời hiệu tiêu diệt không thể
áp dụng đối với các tố quyền đòi lại tài sản sở hữu là động sản cũng
như bất động sản (Điều 2227 BLDSP). Việc yêu cầu đòi lại tài sản chỉ có
thể không được chấp nhận trong trường hợp một quyền lợi có được do
chiếm hữu liên tục bởi thời hiệu thủ đắc, đối với các động sản theo quy
định tại Điều 2276 BLDSP (Điều 2279 được sửa đổi bởi Luật ngày
17/6/2008 là 3 năm), đối với các tố quyền đối vật bất động sản khác sẽ
không thể kiện đòi sau khi hết thời hiệu 30 năm (Điều 2227). Nguyên tắc
không chấm dứt quyền do thời hiệu không chỉ được áp dụng đối với quyền
sở hữu tài sản hữu hình mà còn được áp dụng đối với quyền sở hữu tác
phẩm văn học và nghệ thuật và các quyền kiện về cắm mốc phân giới, về
tường ngăn chung của hai bên và kiện phân chia tài sản chung. Bởi vì,
mặc dù không thuộc trường hợp kiện đòi tài sản sở hữu nhưng các việc
kiện này đều gắn liền và có đặc tính của quyền sở hữu. Quyền cắm mốc
phân giới và quyền về tường ngăn chung đều là những quyền gắn với sở
hữu, do vậy, quyền kiện về cắm mốc phân giới, tường ngăn chung có tính
vĩnh viễn, không thể áp dụng thời hiệu[15]. Về phân chia tài sản chung
thì về nguyên tắc không thể buộc chủ sở hữu chung phải đặt tài sản của
mình trong tình trạng không thể phân chia, do họ đã không yêu cầu phân
chia trong một thời hạn nào đó. Điều 815 BLDSP quy định: « Không ai có
thể bị buộc phải chấp nhận trong tình trạng di sản chưa chia và bất cứ
lúc nào cũng có thể yêu cầu chia di sản trừ trường hợp việc này được
tạm hoãn theo bản án hoặc theo thỏa thuận ».

4.2. Về hiệu lực của thời hiệu

Vấn đề thời hiệu làm chấm dứt tố quyền hay quyền lợi
là một vấn đề còn có ý kiến khác nhau. Ở Pháp, vấn đề thời hiệu sẽ làm
chấm dứt tố quyền hay chấm dứt nghĩa vụ cũng tồn tại hai quan điểm đối
lập nhau. Một số tác giả theo « thuyết thủ tục » thì cho rằng thời hiệu
chỉ làm chấm dứt tố quyền tại Toà án mà không làm chấm dứt nghĩa vụ của
con nợ. Những tác giả này cho rằng thời hiệu là một phương tiện tố
tụng, tức là một yêu cầu bác đơn làm mất đi của chủ nợ quyền theo kiện
con nợ. Con nợ có thể yêu cầu Toà án bác đơn kiện mà không xem xét đến
nội dung vụ kiện vì lý do thời hiệu đã hết. Theo một quan niệm khác – «
thuyết thực thể » thì thời hiệu không chỉ làm chấm dứt tố quyền mà còn
làm chấm dứt quyền lợi. Các tác giả François Terré, Philippe Simler,
Yves Lequette cho rằng « Thời hiệu tiêu diệt có hiệu lực đầu tiên và
hiển nhiên là làm chấm dứt nghĩa vụ theo thời hiệu. Nói cách khác là
chủ nợ không thể đòi hỏi con nợ phải thi hành nghĩa vụ của họ nữa
»[16].

Về phương diện luật thực định, nhà lập pháp của Pháp
dường như đã không quyết định dứt khoát về vấn đề này. Điều 122 BLTTDSP
khẳng định rằng yêu cầu bác đơn vì lý do hết thời hiệu « nhằm yêu cầu
Toà án không chấp nhận đơn của phía bên kia mà không cần xem xét nội
dung đơn vì người đứng đơn không có quyền tham gia tố tụng ». Nhưng văn
từ của BLDSP trước đây cũng như sau sửa đổi bởi Luật ngày 17/6/2008 cho
thấy khi thì thời hiệu làm chấm dứt quyền lợi (Điều 2219, 2221,
2227)[17], khi thì thời hiệu làm chấm dứt tố quyền (Điều 2224 và
2225)[18].

Xét về thực tế thì « thuyết thực thể » – thời hiệu
không chỉ làm chấm dứt tố quyền mà còn làm chấm dứt quyền lợi là thuyết
đã thúc đẩy học lý và án lệ Pháp. Một tác giả khẳng định « thời hiệu
làm chấm dứt quyền lợi, bởi vì nó không chỉ làm chấm dứt tố quyền mà nó
còn làm chấm dứt một cách hoàn toàn quyền lợi »[19]. Cơ sở của thuyết
này dựa trên lập luận sau: Nếu coi thời hiệu chỉ chấm dứt quyền kiện ra
toà sẽ dẫn đến một sự nghịch lý là có những nghĩa vụ sẽ vĩnh viễn không
thể bị chấm dứt vì thời hiệu, do chủ nợ đã thực hiện việc khởi kiện và
có trong tay một bản án chưa được thi hành. Trong khi đó, chắc chắn là
các khoản nợ được xác định bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật cũng
phải chấm dứt theo thời hiệu chung được luật định.

Về lý luận thì sự chấm dứt nghĩa vụ vì hết thời hiệu
không diễn ra một cách mặc nhiên mà cần phải được con nợ thể hiện ý chí
của mình bằng cách viện dẫn việc hết thời hiệu[20]. Tinh thần căn bản
này đã được thể hiện trong Điều 2247 BLDSP: « Thẩm phán không thể tự
mình thay thế căn cứ phát sinh thời hiệu ». Có nghĩa là Thẩm phán không
thể tự mình viện dẫn việc hết thời hiệu và con nợ được tự mình quyết
định việc viện dẫn hoặc không viện dẫn việc hết thời hiệu để bác bỏ
việc trả nợ. Hệ quả là nếu người có nghĩa vụ đã trả nợ khi thời hiệu đã
hết thì họ sẽ không thể kiện yêu cầu đòi hoàn lại số tiền đã trả nữa
(Điều 2249 BLDSP). Quy định này được áp dụng ngay cả khi con nợ do
không biết thời hiệu đã hết nên không phản đối việc đòi nợ, họ được suy
đoán là tự nguyện trả khoản nợ đã hết thời hiệu. Nghiên cứu rộng ra cho
thấy, giải pháp này cũng được chấp nhận trong pháp luật dân sự Đức
(Điều 275, 439, 653 và Điều 218 BGB).

Theo truyền thống dân luật Pháp thì việc con nợ tự
nguyện thực hiện nghĩa vụ trong trường hợp nêu trên được coi là việc
thực hiện một nghĩa vụ tự nhiên. Đó là một loại nghĩa vụ tương phản với
nghĩa vụ dân sự, theo đó việc không thực hiện nghĩa vụ không bị pháp
luật trừng trị và việc nghĩa vụ đó có được thực hiện hay không chỉ được
kiểm chứng qua sự thành thực của người có nghĩa vụ. Nghĩa vụ tự nhiên
là một loại quy phạm đạo đức, chứ không phải là quy phạm pháp luật.
Người đã tự nguyện thực hiện nghĩa vụ tự nhiên không có quyền đòi lại
những gì đã thực hiện[21]. Tinh thần căn bản này đã được thể hiện tại
Điều 1235 BLDSP. Theo đó, trường hợp con nợ được giải phóng khỏi khoản
nợ bởi thời hiệu thì về pháp lý, con nợ này không có trách nhiệm phải
trả nợ nữa và con nợ có quyền không biết đến những yêu cầu mà chủ nợ cũ
đã yêu cầu họ thực hiện. Nhưng theo đòi hỏi của lương tâm, họ có thể tự
nguyện trả nợ mặc dù biết rằng điều đó là không bắt buộc vì món nợ đã
hết thời hiệu, trong trường hợp này, pháp luật cấm con nợ đòi hoàn trả
khoản tiền mà mình đã trả khi hết thời hiệu[22].

Ở Việt Nam, quan niệm thời hiệu làm chấm dứt tố quyền đã được tiếp cận « Thời hiệu này làm cho tố quyền của chủ nợ đối với con nợ vô hiệu vì đã không hành xử trong thời hạn luật định »[23]. Giáo sư Vũ Văn Mẫu cho rằng « Một khi thời gian luật định đã trôi qua, tố quyền xin tiêu huỷ sẽ bị tiêu diệt,
bất luận là sự vô hiệu có tính cách tương đối hay tuyệt đối »[24].
Trong một công trình khác tác giả này nhận xét rằng thời hiệu là thời
hạn do luật ấn định có hiệu lực…tiêu diệt món nợ của đương sự. Đây là trường hợp thời hiệu tiêu diệt[25].

Quan niệm này cũng được một số nhà nghiên cứu khác tán đồng. Cụ thể là « Một quyền lợi
không được chủ thể sử dụng trong một thời gian lâu sẽ bị thời tiêu.
Trên nguyên tắc, thời gian này, theo DLP là 30 năm (Điều 2262). Theo
DLB (Điều 857) thời gian dài nhất để giải trừ nghĩa vụ là 20 năm. DLT
lại ấn định thời hiệu là 10 năm (Điều 935). Thời hiệu còn có thể ngắn
hơn nữa trong những trường hợp bất thường »[26]. Nhà nghiên cứu Nguyễn
Huy Đẩu khẳng định rõ hơn rằng « …nếu vụ tranh tụng bị trước tiêu thì quyền lợi và tố quyền cũng bị tiêu diệt luôn »[27].

Như vậy, theo kết quả nghiên cứu thì pháp luật Việt
Nam về thời hiệu dân sự dưới thời Pháp thuộc chịu nhiều ảnh hưởng của
pháp luật dân sự Pháp. Sau này vì lý do lịch sử nên một số quy định về
thời hiệu dân sự được mô phỏng từ pháp luật dân sự Pháp không còn được
áp dụng nữa. Nhà lập pháp đương đại dường như đi theo hướng tách biệt
thời hiệu dân sự làm 3 loại riêng biệt là thời hiệu hưởng quyền dân sự,
thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự và thời hiệu khởi kiện (Điều 154 đến
Điều 162 BLDS 2005). Tuy nhiên, việc khảo cứu học lý, luật thực định và
án lệ của Pháp và Việt Nam dưới thời Pháp thuộc cho thấy chỉ có hai
loại thời hiệu là thời hiệu thủ đắc và thời hiệu tiêu diệt. Thời hiệu
(prescription) được hiểu là thời hạn do luật ấn định có hiệu lực biến
sự chiếm hữu một tài sản thành quyền sở hữu (thời hiệu thủ đắc – prescription acquisitive) hoặc tiêu diệt món nợ của đương sự (thời hiệu tiêu diệt – prescription libératoire hay prescription extinctive). Khi
các đương sự đã để trôi qua một thời gian quá lâu mà không hành động
thì quyền chiếm hữu đã thành quyền sở hữu hay món nợ đã bị tiêu
diệt[28]. Như vậy, theo nhận định này thì thời hiệu thủ đắc hay thời
hiệu hưởng quyền dân sự và thời hiệu tiêu diệt hay thời hiệu miễn trừ
nghĩa vụ dân sự có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Thuật ngữ thời hiệu
khởi kiện dường như không tồn tại với tư cách là một loại thời hiệu
riêng biệt mà được bao hàm trong thuật ngữ thời hiệu tiêu diệt hay thời
hiệu chấm dứt quyền.

Như đã phân tích ở trên thì thuyết “thời hiệu không
chỉ làm chấm dứt tố quyền mà còn làm chấm dứt quyền lợi” là thuyết đã
thúc đẩy học lý và án lệ Pháp. Về phương diện luật thực định, nhà lập
pháp của Pháp dường như đã không quyết định dứt khoát về vấn đề này.
Tuy nhiên trong từ điển luật học của Pháp không tồn tại thuật ngữ “thời
hiệu khởi kiện” mà chỉ có thuật ngữ thời hiệu tiêu diệt. Vậy xét về bản
chất thì việc hết “thời hiệu khởi kiện” trong pháp luật Việt Nam sẽ chỉ
làm chấm dứt quyền khởi kiện hay làm chấm dứt cả quyền lợi của chủ thể
về phương diện pháp lý. Luật thực định Việt Nam đi theo hướng khi thời
hiệu khởi kiện kết thúc thì “mất quyền khởi kiện”[29]. Về học lý, do sự
“đứt gãy” về truyền thống lập pháp nên cho đến nay vấn đề này dường như
vẫn còn bỏ ngỏ. Xét về tính thực tế của vấn đề thì khi quyền khởi kiện
bị mất do hết thời hiệu thì dường như quyền lợi của chủ thể cũng chấm
dứt vì pháp luật hiện hành không quy định bất kỳ phương tiện pháp lý
nào khác để chủ thể có thể đạt được quyền lợi của mình khi hết thời
hiệu khởi kiện.

Tuy nhiên, thực tiễn tư pháp Việt Nam dường như đã
chấp thuận một trường hợp đặc biệt về quyền khởi kiện chấm dứt nhưng
quyền lợi vẫn tồn tại. Đó là, trường hợp thời hiệu khởi kiện về thừa kế
(10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế) đã hết thì người thừa kế vẫn có thể
khởi kiện yêu cầu chia tài sản thuộc sở hữu chung. Sau một thời gian
dài do dự với quan niệm « quyền thừa kế không đồng nhất với quyền
sở hữu, nên thời điểm phát sinh quyền thừa kế không đồng thời phát sinh
quyền sở hữu. Vì vậy, họ không thể kiện đòi tài sản với tư cách chủ sở
hữu
»[30] thực tiễn tư pháp đã ngả theo hướng chấp thuận quyền kiện
chia tài sản chung của các đồng thừa kế với các điều kiện bảo lưu. Theo
đó, « Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà
các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản
cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm
mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa
nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành
tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải
quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp
dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết… ».
« Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế
không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm
hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền…thì các thừa kế
có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản »[31].

Như vậy, theo góc nhìn lịch sử và so sánh thì giải
pháp trên trong thực tiễn tư pháp Việt Nam dường như đi theo đường lối
về tính không thể áp dụng thời hiệu đối với quyền sở hữu (ngoại lệ của
thời hiệu tiêu diệt trong pháp luật). Đường lối về thời hiệu tiêu diệt
không làm chấm dứt quyền sở hữu đã từng tồn tại trong lịch sử pháp luật
dân sự Việt Nam và có nguồn gốc sâu xa từ truyền thống dân luật Pháp.
Xét về bản chất thì giải pháp trong thực tiễn tư pháp trên cũng không
thuộc trường hợp thời hiệu chỉ làm chấm dứt quyền khởi kiện (không làm
chấm dứt quyền lợi) mà đơn giản chỉ là sự chuyển hoá từ quyền khởi kiện
chia thừa kế sang quyền khởi kiện chia tài sản thuộc sở hữu chung. Tuy
nhiên, sự chuyển hoá từ về việc kiện về thừa kế đã hết thời hiệu khởi
kiện sang việc kiện về yêu cầu chia tài sản thuộc sở hữu chung với bảo
lưu về điều kiện áp dụng cũng đặt ra vấn đề về ý nghĩa của thời hiệu 10
năm đối với yêu cầu khởi kiện chia thừa kế. Nếu coi quyền khởi kiện yêu
cầu chia di sản thừa kế không bị hạn chế bởi thời hiệu và quyền này chỉ
bị chấm dứt trong trường hợp người chiếm hữu trở thành sở hữu chủ do
thời hiệu hưởng quyền dân sự để hoá giải vướng mắc hiện nay đối với
những vụ kiện chia di sản thừa kế vừa có phần di sản đã hết thời hiệu
khởi kiện và vừa có phần di sản còn thời hiệu khởi kiện[32] thì việc
người thừa kế chiếm hữu phần di sản chưa chia của các đồng thừa kế khác
có được coi là ngay tình để được hưởng thời hiệu thủ đắc hay không cũng
là vấn đề cần phải được bàn thêm.

4.3. Sự phân biệt giữa hết thời hiệu kiện với chấm dứt tố tụng vì hết thời hạn tố tụng

Việc đi sâu nghiên cứu nội dung này nhằm hai chủ
đích là tránh sự ngộ nhận về khái niệm và lý giải về phương diện lý
luận sự cải cách của pháp luật tố tụng dân sự hiện nay về vấn đề này.
Trên thưc tế việc nhầm lẫn giữa thời hiệu tiêu diệt với thời hạn tố
tụng có thể dẫn đến những hệ quả về phương diện lập pháp. Theo như phân
tích ở trên, về phương diện học lý thì thời hiệu làm chấm dứt tố quyền
hay quyền lợi cũng có hai quan điểm đối lập nhau trong giới nghiên cứu
của Pháp. Luật thực định cũng không có quyết định rõ ràng về vấn đề
này. Tuy nhiên, học lý và án lệ Pháp sau này thiên về hướng thời hiệu
làm chấm dứt đồng thời cả tố quyền và quyền lợi.

Ở Việt Nam, trước đây nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Đẩu đã từng nhận xét rằng nhà làm luật ở Trung, ở Nam “đã lấy hiệu lực của thời tiêu tố quyền để chế tài sự không hành động của đương sự có việc đang kiện trước toà”.
Chỉ cần chậm trễ trong 18 tháng (Trung) hay 6 tháng (Nam) là quyền lợi
bị tiêu tan, vì hiệu lực của sự không hành động trong lúc đang theo
kiện là tố quyền bị tiêu diệt. Hậu quả quá gay gắt của việc định ra chế
tài này là do sự hỗn đồng giữa hai khái niệm thất hiệu (péremption) và
thời hiệu tiêu diệt (prescription) mà ra[33]. Theo ông “Có thể rằng
sự ngộ nhận giữa các tính cách và hiệu lực trong quan niệm cũ này đã
làm nhà lập pháp 1910 và 1942 sai lạc đường lối. Dù sao đó cũng là một
điểm đáng lưu ý nhà làm luật sau này
”[34].

Tiếp tục theo hướng nghiên cứu này cho thấy, tố
quyền sẽ bị chấm dứt nếu không được sử dụng trong thời hạn luật định.
Có nghĩa là hết thời hạn luật định thì chủ thể quyền lợi không thể kiện
được nữa, trừ “tố quyền bất khả tiêu diệt” hay tố quyền không thể áp
dụng thời hiệu (action imprescriptible) như tố quyền thân trạng đối với
việc xác định cha mẹ cho con. Theo quan niệm này thì quyền lợi và tố quyền
cùng bị chấm dứt khi hết thời hiệu. Việc nghiên cứu tìm hiểu về bản
chất của thất hiệu hay chấm dứt tố tụng vì hết thời hạn (péremption de
l’instance) cho thấy đây là sự chấm dứt tố tụng theo yêu cầu của bị
đơn, vì lý do sau khi nộp đơn kiện thì nguyên đơn đã để quá thời hạn
hai năm mà không thực hiện các hành vi tố tụng tiếp theo. Do vậy, có
thể suy đoán họ đã từ bỏ việc kiện và Toà án có thể bãi bỏ vụ kiện nếu
như bị đơn yêu cầu.

Về bản chất thì sự chấm dứt tố tụng vì hết thời hạn
tố tụng tuy có hậu quả làm huỷ bỏ vụ kiện nhưng không cản trở đương sự
khởi kiện lại nếu vẫn còn thời hiệu kiện (Điều 386 Bộ luật tố tụng dân
sự Pháp). Đây là điểm căn bản nhất để phân biệt việc chấm dứt tố tụng
vì hết thời hạn với thời hiệu tiêu diệt (hay thời hiệu khởi kiện theo
cách hiểu hiện nay ở Việt Nam). Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện
hành không quy định về việc huỷ bỏ vụ kiện vì hết thời hạn tố tụng.
Tuy nhiên, Toà án sẽ trả đơn khởi kiện cho đương sự nếu hết thời hạn
được thông báo mà người khởi kiện không đến Toà án làm thủ tục thụ lý
vụ án (điểm d khoản 1 Điều 168 BLTTDS) hoặc nếu họ không sửa đổi, bổ
sung đơn kiện theo yêu cầu của Toà án (khoản 2 Điều 169 BLTTDS). Ngoài
ra, nếu nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng
mặt thì bị coi là đã từ bỏ việc khởi kiện và Toà án ra quyết định đình
chỉ giải quyết vụ án (Điều 199 BLTTDS).

Sự nhầm lẫn trên dẫn tới trong một thời gian khá dài
luật thực định của Việt Nam đã đi theo hướng Toà án sẽ trả lại đơn kiện
cho đương sự vì lý do thời hiệu khởi kiện đã hết. Vấn đề này đã từng là
điều tâm huyết và trăn trở của cố Luật sư Lê Kim Quế[35]. Thiết nghĩ,
việc trả lại đơn kiện, không thụ lý vụ kiện vì lý do hết thời hiệu kh
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 
THỜI HIỆU DÂN SỰ – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LỊCH SỬ VÀ SO SÁNH
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
DS34B.TK Diễn đàn lớp Dân Sự 34B ĐH Luật TPHCM  :: HỌC TẬP-
Chuyển đến